BỆNH VIỆN SẢN NHI AN GIANG PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG MỘT TRƯỜNG HỢP
MÁU TỤ DƯỚI MÀNG CỨNG – DẬP NÃO NẶNG

BS. Trần Xuân Tuấn

Ngày 11-1-2021 vừa qua, Bệnh viện Sản Nhi An Giang tiếp nhận một trường hợp bé N.H.P 8 tuổi bị chấn thương sọ não nặng do ngã từ trên cao xuống nền cứng trong lúc chơi nhà hơi, sau té bé tỉnh táo nói chuyện được với người nhà, được sơ cứu tại BV tuyến huyện nhưng tri giác giảm nhanh nên được chuyển đến BV Sản Nhi An Giang, khi vừa tiếp nhận GCS của bé P chỉ còn 6-7 điểm, bé hôn mê sâu, thở yếu, đồng tử bên trái giãn to 5mm, phản xạ ánh sáng (-). Các bác sĩ đã đặt nội khí quản cho thở máy khẩn cấp.

Sau khi thăm khám và kết hợp hình ảnh CT-scan các bác sĩ nhận định đây là trường hợp máu tụ dưới màng cứng (DMC) cấp- dập não bán cầu trái, tiên lượng nặng và được chỉ định phẫu thuật cấp cứu mở sọ giải áp lấy máu tụ và vá chùng màng cứng.

Hình 1. CT-scan lúc nhập viện của bé P

Trong quá trình phẫu thuật, các bác sĩ nhận thấy như mô não của bé P phù nề, tăng áp lực nhiều, xuất huyết dưới nhện ít, lượng máu tụ dưới  màng cứng được lấy ra #30ml, phần nắp sọ tách ra được đem đi bảo quản lạnh nhằm vá sọ lại cho bé P trong thời gian tới.

Sau phẫu thuật, bé được chuyển đến khoa hồi sức tích cực (icu) để thở máy sau 1 tuần được cai máy thở, tri giác cải thiện dần, GCS lên đến 12đ vào ngày hậu phẫu thứ 10. Đến ngày thứ 20 sau phẫu thuật, bé gần như hồi phục hoàn toàn có thể tự sinh hoạt. Kết quả chụp CT-scan sọ não sau mổ của bé P cho thấy, lượng máu tụ DMC đã được lấy ra hết, không khối có chèn ép ở não.

Hình 2. CT-scan sau phẫu thuật của bé P

Hình 3. Bé P trước khi xuất viện

1. Máu tụ dưới màng cứng là gì?

Hình 4. Ảnh minh họa máu tụ DMC. Nguồn: ufhealth.org

Máu tụ dưới màng cứng (subdural hematoma) là khối tụ máu hình thành trong khoang dưới màng cứng nằm giữa màng cứng và màng nhện do tổn thương các mạch máu cầu nối (brigding veins) ở khoang dưới màng cứng, được phần làm 3 loại:

+ Cấp tính: Khối máu tụ hình thành nhanh chóng sau 1-2 ngày tổn thương

+ Bán cấp: Khối máu tụ được phát hiện 3-7 ngày sau khi hình thành.

+ Mãn tính: Khối máu tụ được phát hiện 2-3 tuần sau khi hình thành.

2. Triệu chứng lâm sàng

Biểu hiện ban đầu của máu tụ DMC rất thay đổi. Chấn thương đầu có máu tụ DMC nặng có thể tạo ra tình trạng hôn mê, trong khi những chấn thương nhẹ hơn có thể gây mất tri giác trong thời gian ngắn và xen kẻ những khoảng tỉnh. Máu tụ DMC bán cấp hoặc mạn tính có biểu hiện rất âm thầm trước khi được phát hiện.

Các triệu chứng thường gặp trong máu tụ DMC:

+ Giảm tri giác hoặc mất ý thức, co giật, bất thường về hô hấp

+ Giãn đồng tử

+ Nôn, đau đầu, chóng mặt

+ Yếu liệt

+ Mất trí nhớ,

+ Nói ngọng, thay đổi tính tình

3. Các nguyên nhân gây máu tụ DMC:

+ Chấn thương ở đầu là nguyên nhân thường gặp nhất

+ Các bệnh lý về rối loạn đông máu, sử dụng thuốc chống đông máu.

+ Vỡ các dị dạng mạch máu

+ Tụt áp lực nội sọ đột ngột trong thủ thuật chọc hút dịch não tủy thắt lưng.

+ U màng não xuất huyết

* CT-scan là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán các chấn thương sọ não trong đó có cả máu tụ DMC

4. Chỉ định phẫu thuật máu tụ DMC

– Lượng máu tụ DMC có bề dày > 10mm hoặc đường giữa di lệch > 5mm

– Lượng máu tụ DMC có bề dày < 10mm và đường giữa di lệch < 5mm nên điều trị ngoại khoa nếu:

           + GCS giảm 2 điểm so với lúc nhập viện

          + Và/ hoặc đồng tử không đối xứng hoặc cố định và giãn

          + Và/ hoặc ICP >20mmHg

Thành công đạt được trong xử trí cấp cứu trường hợp máu tụ DMC của bé P là kết quả của sự kết hợp các chuyên khoa ngoại nhi, gây mê, hồi sức tích cực. Đây là một bước tiến quan trọng trong điều trị phẫu thuật ngoại thần kinh nhi tại BV Sản Nhi An Giang.

Qua trường hợp trên, các bậc phụ huynh cần theo sát các bé trong vui chơi và cả trong sinh hoạt thường ngày, vì trẻ em rất hiếu động và dễ bị chấn thương, đặc biệt là các chấn thương vùng đầu. Trong chấn thương sọ não thì khoảng thời gian 4 giờ kể từ lúc bị chấn thương đến khi phẫu thuật được gọi là “thời gian vàng” để cứu sống bệnh nhân và giúp giảm các di chứng. Vì vậy, cần kịp thời phát hiện và đưa bệnh nhân chấn thương sọ não đến các cơ sở y tế có phẫu thuật sọ não, tránh chủ quan, lãng phí “thời gian vàng” dẫn đến tăng nguy cơ tử vong và để lại nhiều di chứng nặng nề cho bệnh nhân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bullock MR, Chesnut R, Ghajar J, et al. “Surgical management of acute subdural hematomas”. Neurosurgery 2006; 58:S16.
  2.  Swift DM, McBride L (2000), “Chronic subdural hematoma in children”, Neurosurgery Clinics of North America;11(3):439-46.